Trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khóa 12 kỳ họp
thứ 6 có nêu vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế. Vấn đề không mới. Đó là việc
chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong lý luận quản lý Nhà nước có đề cập đến
các nội hàm cấu trúc vĩ mô của nền kinh tế quốc dân, cơ hội cho Nhà nước can
thiệp vào nền kinh tế và con đường thực hiện sự can thiệp đó. Bài viết này tập
trung khai thác các nội hàm nói trên từ thực tế đất nước nhiều năm qua, hy vọng
gọi ý cho việc phấn đấu đạt mục tiêu chung.
1. Một số cách tiếp cận
về lý luận cấu trúc vĩ mô của nền kinh tế quốc dân
1.1. Theo các yếu tố
cấu thành hoạt động kinh tế
a. Bộ phận đầu vào
- Các yếu tố vật chất cho hoạt động kinh tế như nguồn nguyên
nhiên vật liệu, thiết bị máy móc, lao động, thông tin khoa học kinh tế chính
trị, xã hội . . .;
- Các yếu tố cấu thành môi trường tự nhiên, xã hội.
b. Bộ phận đầu ra:
- Đầu ra tích cực, có ích cho con người như sản phẩm, dịch
vụ, việc làm, thu nhập, sự ổn định đời sống và các tác động dây chuyền khác;
- Đầu ra tiêu cực như các chất phế thải của sản xuất, các tệ
nạn xã hội do kinh tế mà ra.
c. Bộ phận hộp đen:
Đó chính là cơ sở vật
chất, kỹ thuật, là thực lực của nền kinh tế.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế: Hệ thống máy móc
thiết bị, công trình kiến trúc, hệ thống kết cấu hạ tầng chung của nền kinh tế;
- Lực lượng lao động có trong nền kinh tế đó;
- Mô hình tổ chức vĩ mô lực lượng nói trên: phân công, hiệp
tác, phân bố lực lượng sản xuất;
- Lực lượng quản lý, vận hành nền kinh tế;
1.2. Theo các loại
chủ thể hoạt động kinh tế:
Chủ thể hoạt động kinh tế thị trường chính là người mua và
người bán.
a. Các doanh nghiệp:
- Quan hệ với chủ thể cùng loại để thực hiện quá trình sản
xuất kinh doanh khép kín;
- Quan hệ với các chủ thể khác loại: Về nguồn đầu vào và đầu
ra.
b. Các hộ tiêu dùng:
- Đối tác đầu vào về vốn và lao động;
- Đối tác đầu ra: Tiếp nhận hàng hóa dịch vụ, chịu ô nhiễm
môi trường, tiếng ồn do doanh nghiệp tạo ra.
c. Chính phủ
- Người đại diện tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ công. Ví
dụ: Đại diện tiêu dùng vật liệu xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, tiêu
dùng quân trang, quân khí, tiêu dùng văn phòng phẩm phục vụ quản lý Nhà nước.
Tùy theo trình độ phát triển kinh tế văn hóa, tình hình chính trị, quốc phòng,
các khoản tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ công trên luôn có sự biến đổi về cơ cấu,
tỷ trọng nhưng bao giờ cũng phải có. Chính phủ là người đại diện cho tiêu dùng:
chi ngân sách để thanh toán các khoản nói trên;
- Người đại diện đầu vào của một số yếu tố cần cho quá trình
kinh tế: Chủ tài nguyên, chủ nguồn vốn thuộc quỹ tiền tệ quốc gia (ngân sách).
Chính phủ xuất nguồn lực đó như một chủ thể kinh tế, các chủ thể khác sử dụng
chúng vào quá trình sản xuất kinh doanh của họ.
Đáng lưu ý là với vai trò đại diện đầu vào và đại diện tiêu
dùng, khác với các chủ thể khác, chủ thể Chính phủ có thể nắm đầu vào, Chính
phủ có thể cấm, điều tiết, hạn chế, hướng dẫn sản xuất một số hàng hóa dịch vụ
cần thiết.
- Hướng dẫn tiêu dùng của toàn xã hội theo hướng tối ưu. Ví
dụ:
Về nhà ở: Nhà nước có thể xây dựng các chung cư hiện đại,
định giá hợp lý khiến cho dân chúng không ai mua đất làm nhà cao tầng hình ống
mà chuyển sang mua căn hộ của Nhà nước rẻ hơn, bền, an toàn, vệ sinh hơn, giải
tỏa được cảnh sống ổ chuột, ô nhiễm môi trường, giải tỏa các cơn sốt đất.
Về giao thông: Nhà nước có thể tổ chức tốt mạng lưới giao
thông công cộng thay cho việc sử dụng xe máy tràn lan của công dân; thông qua
con đường ngân hàng, tín dụng bằng cách kích thích tối đa lợi ích, Nhà nước huy
động hết số tiền dự định mua xe máy cho giao thông nội đô. Qua đó, Chính phủ
xây dựng hệ thống giao thông công cộng nội đô thật tốt, hơn hẳn giao thông xe
máy về mọi mặt an toàn, vệ sinh, nhanh chóng, thuận tiện, giá cước rẻ. Đồng
thời cũng giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông, giảm thiểu tốt hơn tình trạng ô
nhiễm môi trường thành phố và lượng nhiên liệu dùng cho giao thông cũng giảm
đi, người đi đường cũng an toàn, không bị mưa nắng mà vẫn nhanh chóng, an toàn.
Về sinh hoạt văn hóa:Nhà nước tiến hành phủ sóng tối đa
truyền thanh, truyền hình với chất lượng cao, đầu tư xây dựng các đoàn nghệ
thuật chuyên nghiệp chất lượng cao, xây dựng hệ thống cung văn hóa, nhà hát
hiện đại đủ sức chinh phục công chúng văn hóa, nghệ thuật, lôi kéo các khán
thính giả về với lối sống văn hóa lành mạnh, giữ vững truyền thống dân tộc.
Tóm lại, bằng tiêu dùng của Chính phủ, Nhà nước có thể điều
tiết sản xuất xã hội. Là một khách hàng lớn, tiêu dùng của Chính phủ chiếm tỷ
lệ đáng kể trong tổng cầu.
1.3. Theo một số giác
độ khác:
Cấu trúc vĩ mô của nền kinh tế quốc dân gồm các khâu, các
ngành, các nguồn lực tạo ra của cải vật chất.
- Theo các khâu của quá trình tái sản xuất: sản xuất, lưu
thông, tiêu dùng;
- Theo các ngành cấu thành nền kinh tế quốc dân: nông nghiệp
– công nghiệp - xây dựng- giao thông vận tải . . .;
- Theo các nguồn lực tạo ra của cải vật chất: tài nguyên -
kết cấu hạ tầng - dự trữ quốc gia - doanh nghiệp.
Ở các nước theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, điển hình là
Liên Xô (cũ), cấu trúc vĩ mô của nền kinh tế chú trọng đến tỷ trọng sở hữu Nhà
nước về nguồn vốn và của cải quốc dân.
Con đường thực hiện sự can thiệp của Nhà nước đối với cấu
trúc vĩ mô của nền kinh tế chính là chuyển đổi mô hình tăng trưởng bằng các
chính sách và đặc biệt là các chiến lược.
Chính sách thực chất là chủ trương tương đối dài hạn của Nhà
nước nhưng thường hướng vào xử lý những vấn đề, những lĩnh vực bức xúc cần phải
giải quyết trong mỗi chặng đường phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chính
sách cơ cấu kinh tế. Đó là sản phẩm chủ quan của người quản lý thực hiện ý đồ
và quyền lực của mình nhưng phải tương hợp với thực tế khách quan. Ví dụ điển
hình là Chính sách cơ cấu hay Chính sách công nghiệp mới của Nhật Bản.
Liên hiệp quốc sau khi được thành lập 24/10/1945 đã ra lời
kêu gọi các quốc gia cần tập trung xây dựng chiến lược cho những hoạt động vì
mục tiêu kinh tế để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của đời sống xã hội sau cuộc đại
suy thoái và hủy diệt của chiến tranh. Các quốc gia trong khu vực và thế giới
đều có những chiến lược phát triển kinh tế - xã hội rất ấn tượng như: Trung
Quốc có chiến lược về công nghiệp hóa, chiến lược tăng trưởng kinh tế theo
chiều sâu với thời hạn 15 năm, Hàn Quốc có chiến lược phát triển các ngành công
nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao; Đài Loan có chiến lược phát triển các ngành
công nghiệp có công nghệ cao; Singapore có chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng hợp tác với các nước; Malaysia chuyển từ chiến lược thay thế nhập
khẩu sang chiến lược hướng về xuất khẩu... Cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã
đúc kết vai trò của chiến lược trong quản lý vĩ mô nền kinh tế theo hướng hội
nhập vào nền kinh tế thị trường khu vực và toàn cầu, đồng thời khuyến cáo mạnh
mẽ các quốc gia cần quản lý sử dụng có hiệu quả hơn loại công cụ quản lý kinh
tế - xã hội vĩ mô hết sức tiện ích này. Đối với Việt Nam,
sau chiến tranh đáng lưu ý là cho đến nay vẫn có 2 luồng ý kiến tư vấn: Việt Nam nên đi theo
con đường của các nước Đông Nam Á hay con đường của các nước Đông Bắc Á? Theo
chúng tôi, ta đã cố gắng thực hiện cả hai: Lúc đầu là tự túc lương thực với 3
chương trình: lương thực, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu sau đó (sau Đại hội
VIII nền kinh tế cơ bản đã thoát ra khỏi khủng hoảng) thì đi theo con đường
công nghiệp hóa hiện đại hóa - phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp.
2. Một số nội dung chính trong Báo cáo của Chính
phủ trước Quốc hội, kỳ họp thứ 6(tháng 11/2009)
2.1. Cơ cấu kinh tế
ngành là nòng cốt:
Nhìn lại chặng đường 1/4 thế kỷ thực hiện hai Chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội bao gồm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VII và
10 năm đổi mới (trong đó con số kế hoạch là nguyện vọng chủ quan của chúng ta)
Bảng 1- Cơ cấu kinh tế (% GDP )
Nguyện vọng chủ quan chúng ta muốn mau chóng giảm tỷ trọng
nông lâm thủy sản xuống (đặc biệt là kế hoạch năm 2000), nâng tỷ trọng công
nghiệp xây dựng và dịch vụ lên. Song thực tế, mong muốn đó không đạt được, tuy
công nghiệp và xây dựng có lạc quan hơn - thường vượt kế hoạch.
Tái cấu trúc nền kinh tế không chỉ là thay đổi tỷ trọng các
ngành kinh tế quốc dân mà phải thay đổi cơ cấu trong nội bộ từng ngành để phát
triển ngành đó.
Báo cáo của Chính phủ trong giải pháp lớn đầu tiên về phát
triển kinh tế xã hội năm 2010 có ghi: “Khẩn trương xây dựng đề án và thực hiện
một bước tái cấu trúc nền kinh tế” đã phác họa phương hướng khá cụ thể cho từng
ngành loại hình sản xuất. Trước hết, chính ngành công nghiệp “phải chuyển dần
từ công nghiệp gia công lắp ráp có giá trị gia tăng thấp sang công nghiệp chế
tạo, phát triển công nghiệp tạo mẫu trong các ngành có lợi thế để tham gia vào
các công đoạn có giá trị gia tăng cao có lợi nhuận lớn trong chuỗi giá trị toàn
cầu. Phát triển nhanh công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp cơ khí, từng bước hình
thành các cụm, nhóm sản phẩm...” thông qua “điều chỉnh lại cơ cấu thu hút đầu
tư trực tiếp nước ngoài, ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực chế biến, chế tạo, các
lĩnh vực công nghệ cao, tạo ra năng lực xuất khẩu mới. Hiện đại hóa ngành xây
dựng đạt trình độ tiên tiên trong khu vực, nâng cao năng lực, công nghiệp xây
lắp, hình thành các đơn vị xây lắp mạnh, đáp ứng nhu cầu trong nước và đấu thầu
quốc tế”.
Còn về dịch vụ, nhân đây cũng xin lưu ý nhắc lại rằng tỷ
trọng của ngành này đã liên tục giảm 9 năm liền, từ năm 1996 đến năm 2004, và
năm 2005 mới đạt 38,1% GDP. Còn nhớ, tỷ trọng dịch vụ thấp đã là một khó khăn
cho Việt Nam
khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới lúc bấy giờ. Với cơ cấu kinh tế như
thế, chúng ta chỉ tương đương như các nước Đông Nam Á vào những năm 1980 và như
thế, chúng ta đã chậm 1/4 thế kỷ nếu chỉ xét riêng về khía cạnh này. Nguyên
nhân chậm trễ, suy cho đến cùng cũng là kinh tế kém phát triển, năng suất lao
động nông nghiệp quá thấp – chỉ bằng 1/8 so với năng suất lao động trong công
nghiệp và dịch vụ. Do vậy, không thể dễ dàng nhanh chóng rút lao động từ nông
nghiệp ra được.
Mặt khác, quan trọng hơn là để phát triển công nghiệp và
dịch vụ cần phải có vốn, kể cả vốn cho bản thân nông nghiệp. Cái khó của chúng
ta là chỗ đó. Để giải quyết tình trạng này, phải làm sao tạo được bước phát
triển căn bản trong nông nghiệp. Bài học của Trung Quốc trong những năm cải
cách mở cửa và cho tới mãi sau này vẫn là hết sức chú trọng phát triển nông
nghiệp.
Không phải ngẫu nhiên, trong báo cáo của Chính phủ đã khẳng
định: “Trong khi chuyển dịch mạnh cơ cấu của nền kinh tế, tăng tỷ trọng các
ngành phi nông nghiệp trong cơ cấu tổng sản phẩm, cần nhận thức đúng vai trò
quan trọng và lợi thế lớn của nền nông nghiệp nước ta trong việc bảo đảm an
ninh, ổn định xã hội, tăng kim ngạch xuất khẩu”.
Từ đó, báo cáo của Chính phủ chỉ đạo: “Tạo bước chuyển biến
mới trong việc phát triển nông lâm ngư nghiệp, bền vững cả về sức sản xuất,
chất lượng, hiệu quả và thị trường tiêu thụ, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất
khẩu, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nông dân. Khuyến khích các doanh
nghiệp đầu tư vào khu vực này, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu
lao động trong nông nghiệp, nông thôn... Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ
trong sản xuất, chế biến, bảo quản, gắn với phát triển các mô hình tổ chức sản
xuất mới trong nông nghiệp, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung và
chương trình đào tạo nghề cho nông dân. Ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để
tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất chất lượng và giá trị cao,
nhất là giống lúa, ngô, cây ăn quả, thủy sản. Tăng đầu tư cho bảo quản, chế
biến các loại nông lâm thủy sản, giảm tổn thất, tăng giá trị xuất khẩu”. Như
vậy, tuy là giải pháp lớn, nhưng quá cụ thể để thực thi.
2.2. Tái cấu trúc
doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, động lực phát triển là các
doanh nghiệp, doanh nhân. Nói một cách hình ảnh, việc hội nhập vào nền kinh tế
toàn cầu của Việt Nam giống
như “đại dương sóng gió của những cuộc cạnh tranh kinh tế khốc liệt đang chờ
đoàn thuyền Việt Nam”.
Trước các thử thách ấy, Báo cáo của Chính phủ nêu vấn đề “thúc đẩy tái cấu trúc
doanh nghiệp, xây dựng lực lượng doanh nghiệp dân tộc” có thể nói là giải pháp
của các giải pháp. Liên quan đến vấn đề này phải kể đến Nghị quyết của Quốc hội
về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2006 - 2010, theo đó cả
nước sẽ có khoảng 500.000 doanh nghiệp vào năm 2010 (lúc ấy cả nước mới có
khoảng 200.000 doanh nghiệp, nghĩa là phải phấn đấu tăng gấp 2,5 lần trong vòng
5 năm). Trên thực tế, sau sự bùng nổ về số lượng doanh nghiệp vừa qua, các
doanh nghiệp đã thấy phải tự cấu trúc và củng cố lại hệ thống quản trị của
mình.
“Thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp, xây dựng lực lượng
doanh nghiệp dân tộc. Coi việc tăng giá trị nội địa và xây dựng lực lượng doanh
nghiệp dân tộc là phương hướng chủ yếu để nâng cao tiềm lực và khả năng độc lập
tự chủ của nền kinh tế. Khuyến khích phát triển mạnh doanh nghiệp có sở hữu hỗn
hợp, chủ yếu là các công ty cổ phần để loại hình doanh nghiệp này ngày càng phổ
biến trong nền kinh tế quốc dân. Đẩy mạnh cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả của
doanh nghiệp nhà nước. Hoàn thành việc chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang
hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; đề cao vai trò và trách nhiệm của sở hữu nhà
nước trong việc định hướng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp nhà
nước - trước hết là các Tập đoàn và Tổng công ty - phải đi đầu trong việc đổi
mới công nghệ và chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh, góp phần quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế và ổn định
kinh tế vĩ mô. Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tư nhân, nhất là
các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận các nguồn lực phát triển. Thúc đẩy quá
trình tích tụ và tập trung vốn, từng bước hình thành những doanh nghiệp có tiềm
lực tài chính và công nghệ, có thương hiệu mạnh, có khả năng cạnh tranh quốc tế
và tham gia vào mạng sản xuất chuỗi giá trị toàn cầu”.Riêng với sở hữu nhà
nước, việc thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, gần đây Chính phủ đã
ban hành nhiều văn bản về nâng cao vai trò của Hội đồng quản trị, nâng cao
trách nhiệm của Giám đốc, Tổng giám đốc đối với kết quả và hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Quốc hội đã dành một ngày (9/11/2009) làm việc tại
hội trường về chuyên đề này.
Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các Tập đoàn, Tổng công
ty nhà nước trong dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 có bố trí ngân sách cho
các dự án trọng điểm một số đơn vị để hoàn thành những nhiệm vụ của Nhà nước
giao trong những năm trước đây (không phải là các khoản chi hỗ trợ trực tiếp
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị). Đó là các tập đoàn Dầu khí,
Đường sắt, Hàng hải, Bưu chính viễn thông, Điện lực. Không bố trí ngân sách cho
các Tập đoàn Dệt may, Than - Khoáng sản Việt Nam là những đơn vị phải sử dụng từ
nguồn lợi nhuận sau thuế để đầu tư.
2.3. Các khía cạnh
khác nhau của cơ cấu kinh tế hợp lý, tiến lên hiện đại
Hội nghị Trung ương 7 khóa VII và Văn kiện Đại hội X khi đề
cập đến cơ cấu kinh tế, ngoài cơ cấu ngành còn xét đến cơ cấu kinh tế vùng, cơ
cấu lao động và đặc biệt là cơ cấu thành phần kinh tế1. Trong trình bày của
Đoàn Chủ tịch về ý kiến thảo luận của các đại biểu có nói: “Văn kiện Đại hội
Đảng chỉ nên khẳng định những vấn đề nào đã rõ, đã chín muồi; Còn vấn đề nào
chưa rõ thì cho tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn rồi bổ sung dần dần”.
Với tinh thần đó, xin được nhắc lại rằng, khi bàn về vấn đề
đa dạng hóa các hình thức sở hữu, chúng tôi có ý kiến là tiêu chí về vai trò
chủ đạo của kinh tế nhà nước chủ yếu là ở mặt định tính. Ý kiến đó được đề tài
khoa học cấp Nhà nước KX.01.04 thuộc chương trình KX.01 “Kinh tế thị trường
định hướng XHCN” tán thành và làm rõ thêm cụ thể hóa ở ba nội dung: định tính
là tính chất lượng, tính định hướng, tính chi phối.
Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực (Văn kiện Đại
hội X, tr. 145):

Bảng 2 (cơ cấu
lao động)
Theo văn kiện Đại hội IX, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm
xuống còn khoảng 50% năm 2010, sử dụng 23 – 24% lao động công nghiệp và xây
dựng, và như vậy dịch vụ khoảng 26 -27% lao động. Những con số về cơ cấu lao
động năm 2010 còn phải chờ thực tế nhưng theo chúng tôi, là khó đạt.
Về các thành phần kinh tế, Đại hội X đã có bổ sung phát
triển thêm một số điểm cho phù hợp với tình hình mới:
- Để chung kinh tế cá thể tiểu chủ, tư bản tư nhân vào thành
phần kinh tế tư nhân;
- Khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân: Kinh tế tư nhân có
vai trò quan trọng là một trong những động lực của nền kinh tế;
- Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình
thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh
doanh và sở hữu;
-Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không phải thể hiện ở
số lượng doanh nghiệp nhiều hay ít, tỷ trọng đóng góp vào GDP cao hay thấp, mà
ở chỗ đó là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết
nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng
phát triển5.
Về cơ cấu thành phần kinh tế được đề cập từ Đại hội IX - 15
năm sau đổi mới - “Cơ cấu thành phần kinh tế đã có sự dịch chuyển theo hướng
sắp xếp lại và đổi mới khu vực kinh tế nhà nước, phát huy tiềm năng khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh”6.
Tiếp đến văn kiện Đại hội X: “Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp
tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan
xen nhiều hình thức sở hữu khu vực kinh tế nhà nước đang được tổ chức lại, đổi
mới...”.