Nhà sử học Alfred Chandler mô tả thuyết phục sự thay đổi này
trong cuốn sách Bàn tay hữu hình (1970), trong đó ông đi sâu mô tả sự tăng
trưởng của các tổ chức công nghiệp lớn đầu thế kỷ 20.
Theo ông, các tổ chức này đánh dấu một kỷ nguyên mới, quan trọng của chủ nghĩa tư bản và phân
chia lịch sử chủ nghĩa tư bản thành hai giai đoạn. Giai đọan trước 1850 được
đặc trưng bởi nền kinh tế thị trường với tính cạnh tranh hoàn hảo, các công ty
cùng tham gia hoạt động và một cách vô thức, đã đáp ứng được nhu cầu của thị
trường. Giai đoạn từ 1850 trở đi mang tính chất khác hẳn và ông gọi đó là hệ
thống tư bản quản lý.
Để hiểu được sự khác nhau này chúng ta hãy nhìn lại khái
niệm kinh tế cơ bản nhất: nền kinh tế phân bổ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu.
Theo Chandler, sự khác biệt giữa hai giai đoạn nằm ở cơ chế phân bổ nguồn lực.
Dưới hệ thống chủ nghĩa tư bản quản lý, sản lượng sản xuất không còn bị điều
khiển bởi cơ chế thị trường mà được quyết định bởi lãnh đạo các công ty lớn.
Bàn tay vô hình đã được thay thế bằng bàn tay hữu hình, dưới sự điều khiển của
John D. Rockefeller hay Andrew Carnegie, hoạt động một cách có ý thức, với đủ
ảnh hưởng để thay đổi thị trường.
Sự thay đổi mà Chandler mô tả thực sự bắt đầu xảy ra cùng
với cuộc cách mạng công nghiệp vì chính cách mạng công nghiệp về tạo ra sức
mạnh thị trường. Trước đó, chưa có tổ chức nào từng đạt được hoặc có thể đạt
được quy mô sản xuất như thời kỳ cách mạng công nghiệp. Ví dụ, nhờ cách mạng
công nghiệp, ngành sản xuất bia có khả năng nấu những mẻ bia lớn và vận chuyển
bia đi xa; nói cách khác, các nhà máy bia "lưu động" thời kỳ này có
khả năng bao quát toàn bộ ngành công nghiệp sản xuất bia, ngành công nghiệp
trước đây chỉ gồm những xưởng sản xuất nhỏ.
Ngày nay, bàn tay hữu
hình đã tác động vào gần như toàn bộ nền kinh tế. Các công ty lớn không
đáp ứng lại sự thay đổi của tiêu dùng nhanh như họ đã định hình sự tiêu dùng
đó. Họ có những phương tiện riêng để tạo ra cũng như đáp ứng nhu cầu thị
trường.
Vậy, câu hỏi đặt ra là: nếu cạnh tranh không phân tán nhỏ lẻ
mà tập trung như hiện nay, phải chăng thị trường không còn thực sự cạnh tranh?
Có lẽ đúng như vậy. Khi quyền lực tập trung vào trong tay
của một số ít công ty, cuộc chơi sẽ trở nên thân thiện hơn ở một chừng mực nhất
định. Thử tưởng tượng nếu có 500 người và mỗi người có một quan điểm riêng, sẽ
rất khó để tìm được sự đồng thuận trong mọi vấn đề. Nhưng nếu chỉ có vài người,
sự đồng thuận sẽ đạt được dễ dàng hơn.

Vậy hãy giả sự sự đồng thuận đó đạt được, một cách không
công khai (và chúng tôi không cho rằng các đồng thuận đó là công khai), thỏa
thuận đạt được sẽ là gì? Rõ ràng sẽ không có một ai trong số ít người tham gia
cuộc chơi đứng lên vận động thiết lập một thị trường cạnh tranh hơn. Thậm chí,
họ chắc chắn sẽ không để điều đó xảy ra.
Khẳng định này có vẻ hơi quá đà nhưng thực ra chưa
"nhằm nhò" gì. Nếu hay đọc sách quản lý, bạn hẳn đã từng gặp cụm từ
"lợi thế cạnh tranh bền vững," một cụm từ gói gọn tất cả những gì mà
mọi nhà quản lý đều mong muốn. Khái niệm này được hiểu đơn giản là: một công ty
hoạt động hiệu quả nhất khi công ty đó không chỉ giành được lợi thế trên thị
trường hiện tại với sản phẩm hiện tại mà còn phải đảm bảo được lợi thế đó về
lâu dài.
Lợi thế cạnh tranh bền vững, nói cách khác, là sợi dây trói
Bàn tay vô hình. Theo Adam Smith, nếu một nhà sản xuất đáp ứng nhu cầu thị
trường bằng những sản phẩm mang lại giá trị độc nhất cho khách hàng, nhà sản
xuất đó có khả năng hưởng siêu lợi nhuận. Nhưng ngay lập tức, các nhà sản xuất
khác sẽ nhanh chóng phát hiện, thèm muốn lợi nhuận như vậy và họ sẽ đổ xô vào
cạnh tranh. Khi được tiếp cận với nhiều lựa chọn, người mua sẽ lựa chọn sản
phẩm với giá thấp hơn và lợi nhuận sẽ mất đi nhanh chóng. Tình trạng này - tức
thị trường của người mua - là tối kỵ đối với công ty. Vì thế lãnh đạo các doanh
nghiệp từ trước đến nay luôn tìm cách giải quyết vấn đề này.
Như vậy, bàn tay vô hình chính là kẻ thù của lợi thế cạnh
tranh bền vững - và bất kỳ tổ chức nào nỗ lực để đạt được lợi thế cạnh tranh
bền vững đều là kẻ thù của bàn tay vô hình.
Khi các điều kiện thị trường độc quyền nhóm tồn tại và những
người chơi chính có thể thỏa thuận ngầm với nhau về cách thức kinh doanh, các
thỏa thuận đạt được sẽ không hề giống sự cạnh tranh khốc liệt không ngừng, mà
sẽ là sự thỏa thuận giữa những lãnh đạo giữ cho thị trường ổn định và lợi nhuận
cao. Thị trường độc quyền nhóm cho phép nâng cao hiểu biết lẫn nhau và từ chỗ
hiểu nhau sẽ giúp nhau cùng đạt được lợi nhuận tối ưu; đó cũng là động cơ để
các công ty tiếp tục duy trì thị trường kiểu này. "Những con mèo béo"
tất nhiên sẽ không đấu đá theo kiểu mèo hoang!
Cụm từ "những con mèo béo" là lời lẽ "vùi
dập" tổng thống Obama dành cho cộng đồng doanh nghiệp. (Ông Obama đã không
khách khí gọi một số công ty tại phố Wall là những con mèo béo tham lam vô độ.)
Trả lời phỏng vấn trong chương trình 60 Minutes của đài CBS hồi tháng 12/2009,
tổng thống Mỹ cho biết: "Tôi không chạy đôn chạy đáo để giúp đỡ những con
mèo béo ngân hàng phố Wall." Năm 2010, chính quyền Obama không chỉ bị các
đối thủ chính trị mà cả các giám đốc điều hành uy tín như Jeff Immelt của tập
đoàn GE chỉ trích là có "oán thù" với ngành kinh doanh.
Tuy nhiên chúng ta hãy dừng bàn luận việc này ở đây, bởi vì
điều quan trọng là nhận ra khi nào một sự việc đang xảy ra một cách tự phát và
khi nào sự việc đó cần được nêu lên, thử thách và thay đổi. Hãy suy nghĩ về
điều này với một cái đầu tỉnh táo không bị phân tán bởi quan điểm chính trị:
bảo vệ thị trường tự do không nhất thiết phải là ủng hộ lợi ích kinh doanh.
Trên thực tế, như chúng ta đã phân tích, đó có thể là hai điều vô cùng mâu
thuẫn.
Ở Mỹ, người ta thường cho rằng ủng hộ thị trường tự do có
nghĩa là ủng hộ kinh doanh và ngược lại. Vì thế chúng ta cũng thường thấy những
người bảo vệ các giá trị Mỹ đứng về phía các doanh nghiệp trong các tranh chấp
về chính sách. Tuy nhiên, chúng phải hiểu rằng, mặc dù về lý thuyết, lãnh đạo
doanh nghiệp là người bảo vệ thị trường tự do, nhưng khi vấn đề đụng chạm đến
doanh nghiệp của họ, họ luôn muốn mình là người có quyền chi phối.
Đôi khi thật khó hiểu được những người tự cho là ủng hộ thị
trường tự do tin vào điều gì vì họ thường xuyên bảo vệ quyền lợi của công ty,
trong khi thị trường tự do đã có đầy đủ khả năng đảm bảo quyền lợi cho công ty
họ. Luận điểm chính của chúng tôi là: chúng ta trao cho các tập đoàn lớn quyền
thị trường khổng lồ dưới khẩu hiệu của cạnh tranh tự do, trong khi thực chất
hoạt động của các công ty này không-phải-là-cạnh-tranh. Đó là cạnh tranh giả.
Doanhnghiepmoi.net