Sự tương tác của hành vi cơ hội, khả năng con người hạn chế
trong môi trường bất định và điều kiện thông tin không cân xứng tạo ra chi phí
giao dịch (transaction cost). Chi phí này ảnh hưởng đến hiệu quả của các giao
dịch thị trường và nội bộ doanh nghiệp. Quá trình tiết kiệm những chi phí trên
giải thích nhiều loại hình cơ cấu tổ chức doanh nghiệp khác nhau. Bài viết mô
tả những yếu tố cấu thành nên chi phí giao dịch cũng như những nghiên cứu ứng
dụng của ngành kinh tế học này trong nhiều vấn đề quản lý kinh doanh hiện đại.

Khái niệm chi phí giao dịch đầu tiên được Ronald Coase đề
cập trong bài viết nổi tiếng năm 1937 của mình với tựa đề “Bản chất của doanh
nghiệp.” [1] Coase đặt ra câu hỏi rằng “… các lý thuyết kinh tế nhấn mạnh đến
vai trò hiệu quả của cơ chế thị trường cạnh tranh, nhưng tại sao quá nhiều hoạt
động kinh tế lại diễn ra ngoài phạm vi của hệ thống giá của thị trường…” Coase
kết luận rằng phải tồn tại một chi phí trên thị trường mà chỉ có cơ cấu doanh
nghiệp có thể thể tiết kiệm được. Ngành Kinh tế học chi phí giao dịch cũng bắt
đầu từ công trình này và một số bài viết sau đó đã đưa ông đến giải thưởng
Nobel năm 1991 về “khám phá và làm rõ tầm quan trọng của chi phí giao dịch và
quyền sở hữu trong các cấu trúc tổ chức và cách vận hành của thị trường”.
Tuy nhiên, người có công phát triển kinh tế học chi phí giao
dịch lại chính là giáo sư Oliver Eaton Williamson (University of California,
Berkeley). Bài viết năm 1975 của ông về “Thị trường và tổ chức nội bộ: phân
tích và các ứng dụng chống độc quyền” [2] đã hình thành những nghiên cứu chi
phí giao dịch như và thành tố cơ bản lý thuyết kinh tế về tổ chức.
Lý thuyết này quan trọng vì đây là một trong những nỗ lực
đầu tiên và có ảnh hưởng nhất trong việc phát triển lý thuyết kinh tế liên quan
đến cấu trúc doanh nghiệp. Trước đây, các lý thuyết kinh tế có khuynh hướng xem
doanh nghiệp như là một “hộp đen” và những gì có trong đó không quan trọng.
Điều này lại trái ngược với hầu hết quan điểm của mọi người về tầm quan trọng
của cấu trúc nội bộ. Để giải thích cho những sự khác biệt này, các học giả
trong ngành kinh tế học chi phí giao dịch xây dựng lý thuyết của mình trên nền
tảng giải thích một loại chi phí “sử dụng thị trường”.
Chi phí giao dịch bao gồm thời gian và chi phí đàm phán,
soạn thảo, và thực thi các giao dịch hay hợp đồng. Chi phí này gia tăng khi đối
tác trong giao dịch hành động cơ hội, nghĩa là thu lợi cá nhân từ chi phí của
người khác. Vì vậy chi phí giao dịch sẽ bao gồm hậu quả của những hành vi cơ
hội, sự yếu kém của người ra quyết định cũng như là chi phí ngăn ngừa hành vi
này.
Trước khi hàng hoá (hữu hình và vô hình) đến tay người tiêu
dùng, rất nhiều giao dịch đã diễn ra. Kinh tế học vi mô xem các giao dịch diễn
ra thông qua trao đổi giữa các đối tác độc lập trên thị trường. Sự vận hành này
diễn ra trong điều kiện có nhiều người mua và bán với thông tin hoàn hảo. Sự
cạnh tranh này buộc các đối tác không hiệu quả phải rời xa thị trường, chính sự
trao đổi đã cho phép người mua và bán đo lường thành quả của giao dịch. Trong
một số thị trường quá trình này diễn ra suông sẻ và hiệu quả. Nhưng trong một
số trường hợp khác, quá trình này lại diễn ra hết sức khó khăn và phát sinh
nhiều chi phí. Một vấn đề trọng tâm của các tình huống này là do không có một
cơ chế hợp đồng ràng buộc hiệu quả để đảm bảo kết quả hữu hiệu.
Thông thường, chi phí giao dịch xảy ra trong điều kiện một
khi giao kèo đã thực hiện, các đối tác phụ thuộc vào nhau, nỗ lực các bên nhằm
mang lại lợi ích cho chính mình, và không có khả năng lường trước những ràng
buộc hợp đồng hiệu quả để tính đến tất cả các tình huống bất thường có thể xảy
ra. Mỗi giao dịch này cũng làm tăng chi phí như đàm phán thêm, trì hoãn hoặc
ngưng trệ sản xuất. Từ đó, các nhà kinh tế học xem các chi phí tổ chức và thực
hiện các trao đổi là chi phí giao dịch.
Quá trình trao đổi thông thường phát sinh chi phí, nhờ một
người làm việc nhà cũng phát sinh nhiều chi phí liên quan, từ việc hỏi thăm
người quen, đăng báo hoặc đến các trung tâm giới thiệu việc làm, các chi phí
này trong một số trường hợp có thể bỏ qua, điều gì sẽ xảy ra nếu như người làm
này hành động cơ hội? Một số trường hợp khác các chi phí này lại rất lớn, người
ra quyết định sẽ phải thận trọng hơn. Chi phí giao dịch lúc này đóng vai trò
như là một loại thuế cho giao dịch. Phạm vi của các chi phí này bao gồm tìm
kiếm thông tin, đàm phán, giao kết và thực thi hợp đồng, kiểm soát thành quả…
các chi phí này không trực tiếp phát sinh trong quá trình sản xuất. Câu hỏi đặt
ra là những yếu tố nào gây ra và làm gia tăng chi phí giao dịch?
Bất cứ một giao dịch nào cũng đều có sự tham gia của các yếu
tố con người, môi trường và thông tin. Sự tương tác giữa các yếu tố này gây khó
khăn cho các giao dịch và khiến cho cơ chế thị trường phân bổ tài nguyên không
hiệu quả.
Đặc tính của con
người
- Đặc tính con người rất đa dạng nhưng có hai thái cực ảnh
hưởng lớn đến giao dịch: khả năng hạn chế và mực độ đáng tin cậy hay hành vi cơ
hội. Khi những đặc tính này cùng tồn tại với yếu tố môi trường bất định, có ít
mối quan hệ (trường hợp độc quyền), và tài sản có tính chuyên dụng, thì quan hệ
thị trường sẽ phát sinh vấn đề và đòi hỏi tìm kiếm những phương án khác thay
thế.
- Hành vi cơ hội (Opportunism): Hành vi cơ hội tồn tại khi con
người không đáng tin cậy, người này có khuynh hướng diễn đạt sai chủ đích dưới
hình thức hứa hẹn sai hoặc không đầy đủ liên quan đến hợp đồng tương lai. Thông
tin sai lệch và chỉ tiết lộ thông tin một cách hạn chế là những hành vi cơ hội.
Chú ý rằng không phải giả thiết là ai cũng có khuynh hướng hành động cơ hội.
Nhưng vấn đề sẽ càng trở nên nghiêm trọng nếu hành vi cơ hội của nhiều người
khác nhau. Nếu con ngừơi không cơ hội, có lẽ cuộc sống sẽ đơn giản hơn rất
nhiều, và chúng ta cũng chẳng phải cần những hợp đồng, luật lệ ràng bụôc phức
tạp tốn kém.
- Khả năng hạn chế (Bounded Rationality): các lý thuyết kinh
tế giả thiết con người tư duy và hành động hợp lý nhưng thực tế, khả năng duy
lý ấy lại hạn chế. Người ra quyết định có thể hạn chế về khả năng xử lý thông
tin để hình thành và giải quyết các bài toán quản lý. Khả năng hạn chế gây ra
vấn đề cho doanh nghiệp khi phải quyết định trong những trường hợp kiến thức
không đủ, hoặc điều kiện bất định, hay phức tạp. Điều này có thể là do hạn chế
về ngôn ngữ hay tri thức. Những yếu tố này hạn chế (a) khả năng con người tiếp
nhận, lưu trữ, xử lý thông tin mà không có sai lầm và (b) khả năng nối kết kiến
thức và cảm xúc. Khả năng hạn chế tạo ra chi phí lớn chỉ khi tiến đến ngưỡng
giới hạn. Khi phải ra quyết định trong điều kiện kiến thức không đủ hay có sự
bất định, hoặc phức tạp, khả năng hạn chế sẽ gặp khó khăn. Hiện tượng này được
minh hoạ bằng cách xem một trận cờ. Để có thể xây dựng được một bảng các nước
đi phải ghi nhận tất cả các quy định cũng như phản ứng của đối thủ theo luận
chơi. Mỗi bước đi lại kéo theo một hành động chiến lược khác của đối thủ, và
quá trình này tiếp diễn cho đến cuối trận đấu. Trong trường hợp có nhiều bước
đi như thế, người chơi sẽ lâm vào cảnh khả năng hạn chế. Người này phải quyết
định trong điều kiện thiếu thông tin hoàn hảo. Quản trị viên phải cân nhắc liệu
có nên nhận hợp đồng hay không? người tiêu dùng quyết định mua một sản phẩm
mới? Công ty đa quốc gia quyết định nên đầu tư vào một quốc gia mới là những ví
dụ quyết định kinh doanh gặp phải vấn đề về thông tin không đầy đủ và bất định,
ngầm thể hiện sự tồn tại của khả năng hạn chế.
Đặc tính của giao dịch
- Hiệu quả của giao dịch có thể bị ảnh hưởng bởi bản chất của
giao dịch. Các giao dịch kinh doanh khác nhau ở đặc tính và trong từng trường
hợp cụ thể.
- Bất định hoặc/và phức tạp: Tính bất định và phức tạp tồn tại
trong hầu hết các giao dịch kinh doanh, phạm vi và quy mô các yếu tố này tồn
tại có thể khác nhau tùy vào từng giao dịch cũng như hậu quả của nó. Chúng ta
khó có thể biết chính xác kết quả cũng như khả năng xảy ra của các biến cố. Đôi
khi kết quả lại liên quan đến nhiều khía cạnh, con người và sự kiện khác nhau
và rất khó đánh giá.
- Tần suất xuất hiện giao dịch: Một số giao dịch lặp đi lặp
lại, một số khác lại chỉ xuất hiện có một lần. Đặc tính này ảnh hưởng đến hành
vi của đối tác trong những cam kết lâu dài. Điều này liên quan đến nhu cầu giữ
chữ tín trong kinh doanh. Cơm tù, các cửa hàng chặt chém trong các khu du lịch
là những biểu hiện cụ thể của đặc điểm này.
- Số lượng giao dịch: Số thành viên tham gia trong thị trường
có thể khác nhau đáng kể. Số đông sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh.
Nhưng nếu số thành viên ít, tình huống độc quyền cho phép những hành vi cơ hội
xảy ra dẫn đến chi phí giao dịch lớn. Có những giao dịch chúng ta chỉ mua 1 lần
và phải gắn bó với người bán trong một thời gian dài. Có những nhà kinh doanh
tận dụng đặc tính này để gây ra nhiều áp lực khó khăn cho người mua.
Tính chuyên dụng của tài sản: Khi giao dịch được hỗ trợ bởi
những đầu tư chuyên biệt hay đóng góp cho phát triển những kiến thức hay đào
tạo chuyên biệt, tính chuyên dụng của tài sản hình thành. Đầu tư chuyên biệt có
nghĩa là đầu tư có phương án thay thế có giá trị thấp, hay chi phí cơ hội thấp.
Tương tự, bí quyết chuyên biệt hay đào tạo chuyên biệt rất cụ thể và khó có thể
truyền cho người khác dễ dàng. Có ba loại tài sản chuyên dụng: tài sản con
người chuyên dụng, tài sản vật chất chuyên dụng và tài sản vị trí chuyên dụng.
Những tài sản chuyên dụng này gây ra các tình huống buộc (log in) và làm khó
(hold up) cho các giao dịch. Trong thực tế, có một số tài sản có khả năng
chuyên biệt trong từng giao dịch cụ thể. Ví dụ, để in sách cần tới nhà máy in,
chế tạo nữ trang cần thợ lành nghề, vv. Các tài sản này buộc người sử dụng tài
sản cần có những thỏa hiệp phù hợp cho việc sử dụng tài nguyên. Đối khi người
sử dụng tài sản có thể bị buộc vào tài sản chuyên biệt, có lúc chính tài sản
riêng biệt này làm khó người sử dụng tài
sản. Tất cả các hành vi này gây ra chi phí giao dịch.
Đặc tính của môi
trường
Quá trình trao đổi liên quan đến cảm nhận của con người về
định tính của môi trường giao dịch thể hiện bầu không khí của tổ chức. Bầu
không khí có thể ảnh hưởng đến cách con người tương tác bằng cách ảnh hưởng đến
thái độ và hành vi. Nếu như bầu không khí tổ chức có khuynh hướng tôn trọng
phẩm giá của con người và cảm giác ràng buộc sở hữu, tổ chức có thể thành công
bởi vì con người sẽ hành động tốt hơn trong những điều kiện như vậy. Không chỉ
hành vi cơ hội có thể hạn chế mà một số người có thể hi sinh phần thưởng tiền
bạc để có được điều kiện môi trường làm việc tốt. Bởi vậy, bầu không khí khác
biệt có thể ảnh hưởng đến cả chi phí sản xuất và giao dịch và đóng góp tích cực
trong sự lựa chọn cơ cấu tổ chức.
Không những thế, khi môi trường thiếu niềm tin và đầy những
hoài nghi, hành động của các tác nhân cũng thay đổi đáng kể. Điều đó thể hiện
qua các hành xử của con người trong các tình xuống xã hội. Mỗi lần có kỳ thi cử
là người ta nghĩ ngay đến các vấn đề quay cóp, phao thi. Gian lận thi cử đã quá
phổ biến đến nổi người ta xem đó là hiện tượng bình thường trong xã hội. Điều
này đã làm đảo lộn trật tự xã hội khi mà người ta nghĩ rằng nếu không gian lận
thì mình sẽ là người bị thiệt. Tất cả những hiện tượng xã hội này đã tạo nên
một môi trường quan điểm thiếu lành mạnh và là nguyên nhân của nhiều loại chi phí
phát sinh trong xã hội.
Đặc tính của thông tin
Các giao dịch xã hội đều ít nhiều liên quan đến thông tin,
đặc biệt trong điều kiện thông tin bất cân xứng khi một bên của giao dịch có
nhiều thông tin hơn bên kia. Thông tin không cân xứng thường ở hai dạng: thông
tin kín và hành động kín. Thông tin kín diễn ra khi một bên sở hữu thông tin và
bên đối tác không thể tiếp cận được, ví dụ người mua bảo hiểm sẽ biết về sức
khỏe của mình chắc chắn hơn là công ty bảo hiểm. Dạng này sẽ gây ra vấn đề lựa
chọn bất lợi (adverse selection) của bên không nhận đủ thông tin. Hành động kín
xảy ra khi khó có thể thẩm định kết quả nghĩa vụ hợp đồng. Ví dụ như làm thế
nào cổ đông có thể đánh giá hành vi của người quản lý khi họ không trực tiếp
gắn liền với công việc? Làm thế nào công ty bảo hiểm kiểm soát được hành động
bất cẩn của người mua bảo hiểm? Dạng này gây ra vấn đề tắc trách (Moral
hazard). Thực chất đây chính là hành vi cơ hội khi các hành động mong muốn theo
yêu cầu của hợp đồng không thể dễ dàng đo lường và kiểm soát.
Lấy một ví dụ từ sự tương tác hợp đồng giữa hai đối tác A và
P. Giả sử hợp đồng ký với mục tiêu là A sẽ tiến hành một hành động hay quyết
định thay cho P và được phần thưởng cho hành động này. Cá nhân A có thể là quản
trị viên còn P là chủ sở hữu doanh nghiệp A quản lý. Giả sử P thiết lập hợp
đồng lao động, A có quyền chấp nhận hay từ chối (Thông thường A và P sẽ thương
lượng các điều khoản trước đó). Thông tin có trong hành động thoả thuận thường
là không cân xứng. A có thể có nhiều thông tin liên quan mà P không có được.
Hơn nữa, nếu P không thể có được thông tin và không tốn kém chi phí thì P không
có cách nào để đánh giá liệu A có tuân theo các điều khoản của hợp đồng. Bởi
vậy, trong trường hợp quyền lợi không hội tụ, A có khuynh hướng hành động cơ hội
theo quyền lợi của mình thay vì hành động vì quyền lợi của P như quy định trong
hợp đồng. Vấn đề môi trường và thông tin phát sinh tạo thêm động lực cho A tạo
ra giao dịch mà bảo vệ A theo khuynh hướng cơ hội.
Để tình huống này xảy ra, phải có hai điều kiện: (1) Thông
tin phân bổ không đồng đều và lấy được thông tin rất tốn kém, và (2) hiện diện
hành vi cơ hội (hoặc có thể là khả năng hạn chế). Nói tóm lại, quyền lợi phân
kỳ trong điều kiện thông tin không tương xứng và hành vi cơ hội là trung tâm
của các vấn đề giao dịch. Đặc tính thông tin trong giao dịch hình thành những
vấn đề khác nhau.
Ngoài ra, các vấn đề về làm việc theo nhóm và sự cam kết của
các thành viên cũng gây nên chi phí giao dịch. Khi nhiều người cùng làm một
công việc, nhưng khó có thể đánh giá đóng góp của từng cá nhân, tình huống này
gọi là vấn đề đội nhóm. Điều này sẽ tạo ra vấn đề đánh giá và đo lường. Có hai
vấn đề sẽ phát sinh, thứ nhất, làm thế nào để khen thưởng nỗ lực đóng góp của
cá nhân làm việc tốt? Thứ hai, nếu như không thể khen thưởng từng cá nhân thì
làm thế nào để hạn chế hành vi lợi dụng (free riding). Trường hợp cam kết không
rõ ràng xảy ra khi các bên trong hợp đồng không thể cam kết một cách chắc chắn
về hành vi tương lai của họ. Các tài xế đều cam kết là sẽ tuân theo luật lệ khi
mua bảo hiểm, nhưng những lời hứa này không đáng tin cậy. Tình huống này thường
đi kèm với các loại hàng hoá “tín chấp” (Credent goods) vì khó có thể thẩm định
chất lượng của sản phẩm, ví dụ như đồ cổ,
danh hoạ. Giá trị thực của sản phẩm chỉ có thể rõ ràng với những người có hiểu
biết về lãnh vực chuyên môn. Dấu hiệu (Signal) chính là cơ chế để hạn chế những
tác động không tốt của những động thái này. Ví dụ doanh nghiệp nỗ lực xây dựng
các chứng chỉ chất lượng, đầu tư lớn cho cơ sở hạ tầng và nhân viên, và đặc
biệt là xây dựng hình ảnh hay nhãn hiệu (Brand).

Xác định và ứng dụng
Chi phí giao dịch không chỉ phát sinh do những giao dịch bên
ngoài mà cũng bao gồm những chi phí giao dịch bên trong doanh nghiệp. Tất cả
những yếu tố nêu trên đều có thể phát sinh bên trong nhưng ở những chừng mực
khác nhau. Vì vậy, quyết định lựa chọn tự thực hiện hay mua bên ngoài sẽ phụ
thuộc vào sự cân đối giữa chi phí bên trong và bên ngoài. Chính doanh nghiệp là
cơ chế hay cơ cấu quản lý để nhằm tiết kiệm chi phí giao dịch. Nghiên cứu hành
vi của doanh nghiệp và các định chế vận hành là một những điểm cốt lõi trong
kinh tế học chi phí giao dịch.
Kinh tế học chi phí giao dịch tập trung vào các giao dịch
của tổ chức khi hàng hoá chuyển từ người cung cấp đến người sử dụng thông qua
những giao tiếp có đặc tính tách biệt về mặt công nghệ (Williamson, 1988). Khi
các giao dịch diễn ra bên trong tổ chức, chi phí giao dịch có thể bao gồm việc
quản lý và kiểm soát nhân sự, mua nguyên vật liệu và thiết bị. Chi phí giao
dịch của việc mua cùng một hàng hoá hay dịch vụ từ một nhà cung cấp bên ngoài
cũng bao gồm chi phí lựa chọn nguồn cung cấp, quản lý hợp đồng, đo lường thành
quả và giải quyết tranh chấp. Bởi vậy, việc tổ chức các giao dịch hay “cấu trúc
quản lý” ảnh hưởng chi phí giao dịch.
Đối với từng doanh nghiệp, quyết định kinh doanh dựa trên
những tiêu chí lợi ích và chi phí. Với những lý luận trên, doanh nghiệp có thể
tiết kiệm chi phí giao dịch thị trường khi nội bộ hoá các hoạt động sản xuất.
Ngược lại, chi phí quản lý nội bộ gia tăng khi tỷ lệ hoạt động “tự sản xuất”
quá lớn. Quyết định mua hay tự sản xuất sẽ là một quyết định tối ưu tỷ lệ nội
bộ hoá cũng như thuê ngoài sao cho chi phí là thấp nhất. Chi phí giao dịch bên
ngoài giảm khi gia tăng nội bộ hoá, nhưng sự gia tăng này làm gia tăng phí nội
bộ. Việc lựa chọn cơ cấu phải được cân nhắc chi phí cả hai mặt.
Nói tóm lại, chi phí giao dịch phát sinh do sự tương tác
giữa các đặc tính con người, giao dịch, môi trường và thông tin. Trong những
môi trường bất định và điều kiện thông tin không cân xứng các đặc tính của con
người có cơ hội thể hiện và gây ra chi phí giao dịch lớn, cản trở giao dịch thị
trường vận hành hiệu quả. Hậu quả của những chi phí giao dịch thể hiện qua những
rào cản trong quan hệ và thương mại. Hiểu được bản chất của chi phí giao dịch
giúp chúng ta nhận dạng các vấn đề gây khó khăn trong quan hệ kinh doanh từ đó
có thể đề ra những biện pháp cải thiện cụ thể hơn. Giải pháp được đưa ra là tìm
kiếm những cơ chế đề cao tính cạnh tranh, minh bạch và công khai trong quan hệ.
Những giải pháp này thể hiện cụ thể thông qua các cơ chế luật,
Tuy thế, chính những giải pháp này lại là lựa chọn bất lợi
cho từng đối tác. Có một điều chúng ta cần nhận ra rằng những vấn đề liên quan
đến thông tin, môi trường và hành vi con người có một điểm xuất phát chung đó
là đạo đức của những người liên quan.
Doanhnghiepmoi.net