Nếu như Milton Friedman đã đúng khi cho rằng lạm phát ở đâu
và khi nào cũng xuất phát từ những nguyên nhân tiền tệ, thì một câu hỏi tự
nhiên tiếp theo sẽ là tại sao một chính phủ lại chấp nhận chính sách tiền tệ
gây ra lạm phát - một trong những điều tối kỵ nhất của điều hành vĩ mô.
Thâm hụt ngân sách, lạm phát và mất cân đối vĩ mô
Nhìn vào những nước đã từng trải qua lạm phát cao sẽ thấy
rằng, lạm phát ở những nước này thường là hệ quả của việc in tiền nhằm tài trợ
cho thâm hụt ngân sách. Như vậy, thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn
tới việc nhà nước buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều
này đến lượt nó dẫn tới lạm phát.
Từ góc độ này nhìn lại nền kinh tế Việt Nam, mặc dù Luật
Ngân sách 1993 không cho phép nhà nước in tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách,
nhưng với lượng tiền đồng trong lưu thông lớn như hiện nay (khoảng 16% GDP) thì
chỉ cần duy trì tốc độ in thêm tiền đúng bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế (giả
sử là 8%) thì nhà nước cũng đã có thêm được 1,3% GDP để tài trợ cho thâm hụt
ngân sách (chưa kể đến “thuế lạm phát” cao ở Việt Nam trong mấy năm qua).

Bên cạnh một số nguyên nhân khách quan khác, thì lạm phát ở
Việt Nam
còn do đầu tư công và nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém
hiệu quả. Chính sự kém hiệu quả này, đến lượt mình, lại làm cho tình trạng thâm
hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng, và “vòng xoáy đi xuống” của kinh tế vĩ
mô sẽ lại tiếp diễn. Cũng cần nhấn mạnh thêm là “dòng xoáy đi xuống” này một
khi đã được khởi động thì rất khó dừng lại chứ đừng nói tới khả năng đổi chiều.
Vì vậy, nhóm giải pháp thứ hai của Thủ tướng yêu cầu “cắt giảm đầu tư công và
chi phí thường xuyên của các cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu
tư của các doanh nghiệp nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách” cần
phải được thực hiện một cách triệt để và nhất quán. Nếu không giảm được thâm
hụt ngân sách thì nhóm giải pháp thứ nhất - thắt chặt tiền tệ - sẽ bị vô hiệu
hóa đáng kể, và vì vậy không thể đạt được mục tiêu mong muốn là kiềm chế lạm
phát.
Bài viết này sẽ thảo luận thêm một số vấn đề liên quan đến
tình trạng thâm hụt ngân sách ở Việt Nam, sau đó bình luận một số biện pháp
nhằm thắt chặt chi tiêu công của Chính phủ, và cuối cùng trình bày một số
khuyến nghị về chính sách.
Tại sao cần giảm thâm hụt ngân sách?
Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay đã tới mức đáng báo
động. Theo số liệu chính thức, thâm hụt ngân sách của nước ta hiện nay là 5%
GDP (bao gồm cả tiền trả nợ gốc và không bao gồm các khoản chi ngoài dự toán).
Thế nhưng theo ước tính của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thì thâm hụt ngân
sách của Việt Nam - theo cách tính quốc tế, không bao gồm tiền trả nợ gốc nhưng
bao gồm các khoản chi ngoài dự toán - lên tới 7% GDP (Hình 1). Không những thế,
thâm hụt ngân sách của Việt Nam
trong mấy năm trở lại đây luôn được duy trì ở mức cao, và đặc biệt tăng mạnh
trong năm 2007.
Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm tiết
kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài khoản vãng
lai. Ở Việt Nam, mặc dù thâm hụt ngân sách tăng đột biến trong năm 2007chưa làm
suy giảm tiết kiệm nội địa và đầu tư tư nhân nhưng nó đã làm tăng mức thâm hụt
tài khoản vãng lai, từ -0,5% năm 2006 lên tới -8% năm 2007. Thâm hụt ngân sách
cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành vĩ mô của
chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của người dân và của các nhà
đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài
trợ thâm hụt. Tóm lại, thâm hụt ngân sách cao kéo dài sẽ đe dọa sự ổn định vĩ
mô, và do vậy, khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững của nền
kinh tế.
Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ
Vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách
ngân sách (hay chính sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian qua chỉ hướng
đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua đó
giảm tổng cầu. Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân
sách và tín dụng nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu
quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); (iii) Cắt giảm chi thường xuyên của bộ
máy nhà nước các cấp.
Tổng đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách, tín dụng nhà nước và
thông qua DNNN) luôn chiếm trên dưới 50% tổng đầu tư của toàn xã hội (Hình 2).
Vì vậy, không nghi ngờ gì, nếu Nhà nước có thể cắt giảm một số khoản đầu tư kém
hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ
nhẹ đi. Cũng tương tự như vậy, lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ
quan nhà nước có thể cắt giảm chi thường xuyên (chiếm 56% tổng chi ngân sách
năm 2007).
Mặc dù chính sách cắt giảm chi tiêu công là hoàn toàn đúng
đắn, song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu thì còn chưa chắc chắn vì
ít nhất có bốn lý do.
Thứ nhất, việc cắt giảm, thậm chí giãn tiến độ đầu tư công
không hề dễ dàng, nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập pháp các
cấp quyết định; đã được đưa vào quy hoạch của các bộ, ngành, địa phương; đã
được triển khai; và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơ
quan liên quan đến dự án.
Thứ hai, Nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu
tư của các DNNN, một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và mặt
khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng.
Thứ ba, với tốc độ lạm phát như hiện nay thì chỉ cần giữ
được tổng mức đầu tư công theo đúng dự toán cũng đã được coi là một thành tích
đáng kể.
Thứ tư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng vì việc giảm chi
thường xuyên rất khó khăn nên đây thường là hạng mục cuối cùng nằm trong danh
sách cắt giảm. Hơn thế, với thực tế ở Việt Nam thì phạm vi chi thường xuyên có
thể cắt giảm không nhiều. Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương (chiếm khoảng 2/3
tổng chi thường xuyên), sau đó phải trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất
lương, chi chính sách chế độ, tiền đóng niêm liễn cho các tổ chức quốc tế, các
khoản chi thường xuyên đã được thực hiện v.v… Theo ước lượng của Bộ trưởng Bộ
Kế hoạch và Đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì sẽ giảm được khoảng 3.000 tỉ
đồng chi hội họp và mua sắm xe - tức là giảm được khoảng 0,8% tổng chi ngân
sách.
Giảm thâm hụt ngân sách bằng cơ chế quản lý đầu tư công
Chính sách giảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công
là đúng đắn, cần thiết nhưng chưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ
chỉ thực sự có hiệu lực nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo những
khoản đầu tư còn lại có hiệu quả. Đầu tiên là phải có cơ chế quản lý đầu tư
công sao cho những dự án kém hiệu quả (như chương trình 5 triệu tấn đường hay
đánh bắt xa bờ) bị loại bỏ ngay từ đầu. Sau đó, phải đảm bảo dự án được tiến
hành đúng tiến độ và không bị thất thoát, lãng phí (như dự án 112 và các dự án
đầu tư xây dựng cơ bản - được ước lượng là thất thoát trung bình 30%).
Một trong những biện pháp có thể được sử dụng để cải thiện
cơ chế quản lý đầu tư công là thành lập một hội đồng thẩm định đầu tư công độc
lập. Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu
tư công là do quá trình ra quyết định đầu tư của chính quyền địa phương và các
bộ ngành chủ quản chịu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và do vậy thiếu khách
quan. Vì vậy, nhiệm vụ của ủy ban độc lập này là đánh giá, thẩm định một cách
toàn diện và khách quan các dự án có quy mô vượt quá một quy mô đầu tư nhất
định nào đó. Kết luận của Hội đồng thẩm định này sau đó được công bố rộng rãi.
Tương tự như vậy, báo cáo kiểm toán các DNNN và dự án đầu tư công lớn cũng phải
được công khai.
Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm
chi tiêu, Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình
trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền
vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là thuế
thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong khi con số này
ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Thật bất công
và kém hiệu quả khi nhiều người sau một đêm trở thành triệu phú nhờ vào việc
Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) tại nơi họ có bất động sản, trong khi lại
không phải đóng góp gì cho ngân sách nhà nước. Áp dụng thuế bất động sản đúng
đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho ngân sách nhà nước, đồng thời giúp Nhà
nước thực hiện được các chương trình đầu tư CSHT vì quốc kế dân sinh.
Những khó khăn hiện tại của nền kinh tế Việt Nam bắt nguồn
từ những bất cập trong chính sách phát triển dài hạn. Chủ trương tăng trưởng
nhờ vào số lượng thông qua đầu tư ồ ạt, dựa vào khu vực nhà nước vốn kém hiệu
quả, đồng thời thiếu sự phối hợp đồng bộ trong điều hành vĩ mô đã đưa nền kinh
tế Việt Nam từ bối cảnh sau khi gia nhập WTO vô cùng thuận lợi đến tình trạng
lạm phát và bất ổn vĩ mô như hiện nay. Vẫn còn may là những khó khăn của Việt Nam hiện nay
hoàn toàn có thể giải quyết được nếu Chính phủ có quyết tâm mạnh mẽ và chính
sách đúng đắn, trong đó kỷ luật tài khóa là điều kiện quan trọng nhất. Thắt
chặt và nâng cao hiệu quả của chi tiêu công, đặc biệt là áp đặt kỷ luật nghiêm
ngặt đối với hoạt động đầu tư của các tập đoàn nhà nước là điều kiện tiên quyết
để có thể khôi phục lại cân bằng vĩ mô và gia tăng hiệu quả, tính ổn định và đà
tăng trưởng cho nền kinh tế.
Doanhnghiepmoi.net